Thứ Ba, 12 tháng 4, 2016

THƯƠNG NGƯỜI ĐỘ LƯỢNG


THƯƠNG NGƯỜI ĐỘ LƯỢNG

Tác giả là một y sĩ thuộc hội Ái Hữu Y Khoa Huế Hải Ngoại, hiện là cư dân Mission Viejo, CA. Tốt nghiệp Y Khoa Huế năm 1973, thời chiến tranh, ông là Y Sĩ Trưởng binh chủng Nhảy Dù cấp tiểu đoàn và gắn bó với đơn vị chiến đấu cho tới giờ phút cuối tại vành đai Sàigon ngày 30 tháng Tư. Với bài "Không Bỏ anh em, không bỏ bạn bè" ông viết Tháng Tư 2013, Bác sĩ Vĩnh Chánh đã nhận giải danh dự Viết về nước Mỹ cùng năm. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.
* * *

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nổi truân chuyên

Viết tặng các phụ nữ sống trong thử thách và nghịch cảnh

Khi gia đình chúng tôi dời chuyển đến xóm, Anh đang học Đệ Ngũ cùng một lứa với người anh thứ hai của tôi. Sau hiệp Định Genève, di cư từ Thanh Hóa vào, chỉ có cha và Anh, rất đơn chiếc.

Cùng với các đứa trẻ trong xóm, chúng tôi hay chạy theo chơi với Anh, để được nghe Anh kể chuyện ngoài nớ. Anh cũng thường đến nhà tôi chơi với anh trai và 2 chị của tôi. Đó là một người rất dễ mến, hiền hòa và đơn sơ. Lúc cha Anh tục huyền và có một bé gái, Anh tình nguyện vào Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt sau khi đậu Tú Tài. Vài năm sau cha Anh dọn nhà khỏi xóm.

Bẳng đi gần cả mươi năm, bất ngờ tôi gặp lại Anh trong bộ áo quần màu Olive Bộ Binh với cấp bực Đại Uý khi Anh về dự đám tang của cha mình năm 1972. Vẫn một vẽ trầm lặng, dáng người cao ốm. Vẫn một cách ăn nói từ tốn nhỏ nhẹ nhưng thân tình. Anh hiện đang phục vụ cho một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân và vừa lấy vợ vài tháng trước. Đám cưới rất đơn giản vì cha Anh già yếu không tham dự, nên Quân Đội đại diện nhà trai đi cưới vợ cho Anh. Bố vợ của Anh là một Thượng Sĩ già của Tiểu Đoàn, người thân thuộc với Anh từ bao năm qua. Tôi mừng Anh, khi Anh rút ví cho xem tấm hình người vợ xinh đẹp, một nữ sinh Trung Học.

20 năm sau, tình cờ gặp lại Anh tại California ở nhà một người bạn hàng xóm chung với nhau trước đây, chúng tôi mừng rở chào hỏi nhau trên đất Mỹ. Anh đã thay đổi nhiều và đi một mình. Khó nhận biết được nếu không được giới thiệu trước. Hình ảnh hiên ngang và oai vệ của một chiến sĩ năm nào tôi hằng ngưỡng mộ không còn nữa. Anh già hẳn đi, nét mặt cằn cổi, chín mùi với khổ đau, ánh mắt mệt nhọc. Lưng hơi còng và đôi vai co rút. Bước đi với những bước chân như ngần ngừ khập khỉnh. Anh và gia đình, 1 vợ 4 con được qua Mỹ theo diện HO trên một năm nay. Tôi mừng Anh đến bến bờ tự do. Sau đó Anh kéo tôi ra sân, trầm ngâm tâm sự.

Binh nghiệp Anh thăng tiến theo thời gian. Từ Trưởng Ban 3 Tiểu đoàn Địa Phương Quân, anh lên làm Tiểu Đoàn Phó, rồi Tiểu Đoàn Trưởng với cấp bậc Thiếu Tá giữa năm 1974. Theo con sóng di tản của Miền Trung vào cuối tháng 3, 1975, gia đình Anh đến Saigon cùng một nhóm sĩ quan và binh sĩ thuộc quyền. Lúc ấy Anh có 2 con gái, đứa lớn 3 tuổi và đứa nhỏ gần 1 tuổi. Khi Anh vừa kịp tìm ra một nơi cho gia đình Anh cùng gia đình bên vợ tạm trú ở khu Bàn Cờ, là lúc Miền Nam Việt Nam đang trên đà tan rả. Rồi tập trung cải tạo sau vụ cưởng chiếm Miền Nam. Trời đất đen tối. Người người thống khổ dưới chế độ mới, sát máu, bạo tàn.

Trong suốt 10 năm tù cải tạo, qua bao nhiêu lần chuyễn trại, từ Nam đến Bắc rồi Bắc trở lại Miền Nam, Anh chỉ được gia đình liên lạc 1 lần trước khi bị đưa ra Bắc và sau đó là biệt tăm. Anh không muốn nhắc nhiều đến những năm tháng sống trong các trại tập trung ở những núi rừng xa xôi lạnh lẻo, cơ cực đói khát. “Bên ngoài thì bị chúng chửi rủa mạt sát, hành hạ thể xác. Bên trông ê chề với đau đớn tuyệt vọng, niềm tin yêu cuối cùng cũng rạn nứt với cảm giác bị bỏ rơi, không một tin tức của vợ con”. Nhiều lần Anh nghĩ đến cái chết, nhưng vì bao ray rức dằn vặt, bao câu hỏi chưa có câu trả lời, rồi lòng thù hận và tự trách từ từ biến Anh thành câm lặng và chai đá.

Ngày được cho về tại địa chỉ cũ “Bàn Cờ” trên tờ giấy thả tù, lòng Anh xôn xao, nhưng căng thẳng chờ đợi một bất hạnh. Anh e dè, ngở ngàng bước vào nhà lúc xế trưa. Hai con gái Anh, nay 13 và 11 tuổi nhìn Anh xa lạ, hoàn toàn không biết Anh là cha ngay cả khi Anh nói rỏ tên họ và kêu tên chúng. Còn nàng ở đâu? Mẹ vợ cho biết nàng mang 2 đứa con nhỏ sau này về chơi bên gia đình chồng mới, sau khi nhận giấy báo Anh sẽ được thả về trong mấy ngày gần đây. Anh chết đứng như trời trồng giữa căn nhà, tê tái bên cạnh chiếc bị cũ chứa vài bộ quần áo rách do anh em bạn tù cho, lặng người nhìn 2 con gái của mình, trong khi nghe những lời phân bua của mẹ nàng.

Em nó và cả nhà đều nghĩ Anh đã chết trong tù. Hoặc giả, nếu còn sống, cũng chẳng biết khi nào được cho về. Nhà ta càng lúc càng túng thiếu, tình trạng rất bi đát, chạy đâu cho ra tiền. Ông già chẳng làm được gì nên thân ngoài chuyện nghiện ngập suốt ngày. Anh đi tù có để lại tiền bạc gì đâu! Vợ con Anh cần tiền để sống, đó là chưa kể chuyện bị thôi thúc đi kinh tế mới. Cuối cùng em nó phải nghĩ đến chuyện sống còn và nuôi con. Nó mới đành phải lấy cái thằng yêu nó lúc 2 đứa cùng chung trường trung học với nhau. Anh cứ tạm ở đây đi. Nhưng xin Anh xữ đẹp và hiểu là chúng đã có 2 con với nhau và nuôi luôn cả 2 con của Anh nữa…

Sét đánh ngang tai. Đất trời sụp đổ. Điều lo âu sợ hải nhất của người cải tạo trong những ngày tháng tù đày vô vọng đã phơi bày. Nổi tủi nhục bị phản bội ê chề. Không một đắn đo và trong một thôi thúc nghịch lý, Anh quyết định rời nhà dù chưa biết mình sẽ đi đâu. Một quyết định nhanh chóng và sắc bén, như Anh đã từng làm nhiều lần trong lâm nguy khi Anh còn chỉ huy cả trăm quân trong trận mạc. Anh ngập ngừng đến bàn vuốt đầu 2 con rồi lặng lẻ bước ra. Thêm một lần nữa Anh là người thua cuộc, trắng tay. Anh là kẻ bại trận, Anh đã thua trong cuộc chiến lẫn trong cuộc tình. Bên ngoài, trời nắng chang chang, nhưng Anh bổng nổi cơn lạnh run tới tận xương tủy và xâm xoàng. Như một con thú bị trúng thương, Anh lảo đảo vừa đi vừa hấp tấp chạy xa căn nhà cũ trong nhạt nhòa uất ức của mồ hôi lẫn nước mắt, khiến Anh vấp té vào một xe 2 bánh và gảy cổ chân phải.

Trôi theo dòng đời của một con người không còn gì đế mất thêm, Anh làm tất cả công việc lớn nhỏ, nặng nhẹ, để sống còn. Từ làm thuê ở chợ, khuân vác ở cảng, đạp xe xích lô, xe ba bánh chở hàng chở than…Rồi cũng như bao chiến hữu xưa cũ, bao bạn tù, Anh gia nhập dần vào cuộc sống bên lề xả hội, luôn mang nặng ưu tư của một thân phận thua thiệt với vết thương lòng sâu kín. Vài năm sau, Anh lấy vợ, là em gái của một bạn cùng khóa VBQG với Anh, có chồng thiếu úy bị chết ở vùng Cao Nguyên trong những tháng trước khi mất nước nay đang sống với 2 đứa con trai gần bằng tuổi con Anh. Người vợ thứ hai của Anh có một cửa hàng nhỏ nên tài chánh trong gia đình không mấy chật vật. Mổi tháng, đôi ba lần, Anh không quên ghé thăm 2 đứa con gái, đem theo chút quà cho chúng và tiếp tục làm thân. Có lúc không tránh được, Anh phải chạm mặt người vợ trước cùng người chồng trẻ hiện tại và 2 đứa con chung còn nhỏ, một trai một gái. Trong những lần đối diện hiếm hoi ấy, sự thù hận, đau đớn và chua chát làm người Anh cứng lại và giọng nói hằn học, cộc lốc.

Rồi chương trình HO xuất hiện. Lúc đầu chẳng mấy ai tin, nhưng rồi phường khóm tiếp tục gởi giấy thông báo, thúc giục. Sau đợt đầu tiên chính thức ra đi năm 1990, những tù cải tạo còn lại trong nước, xa gần thành phố hay bên trong các trại tù, nhìn thấy chính phủ Hoa Kỳ đang thi hành một chính sách nhân đạo để giúp đở những tù nhân chiến tranh bị giam cầm trên 3 năm. Anh bàn tính với vợ mới, rồi với vợ cũ. 2 con gái của Anh ráp vào hồ sơ đi chung với gia đình vợ mới của Anh. Hai con gái của Anh kêu Anh là Bố. Hai con trai của vợ sau kêu Anh bằng Tía. Tháng 4 năm 1991, Anh cùng vợ thứ hai và 4 con đến TB Wisconsin, định cư tại đó cho đến bây giờ.

Tôi ngỡ ngàng, xót xa giữ im lặng, ngồi nghe anh tâm sự. Tặng chút tiền làm quà cho các cháu, tôi cầu mong Anh được sức khỏe, gia đình hạnh phúc. Đời sống sớm ổn định, các cháu ngoan và học hành giỏi, chóng thích hợp với xả hội mới.

Tháng 10 năm 1999, Anh điện thoại hẹn dẫn Chị đến thăm chúng tôi tại nhà. Khác hẳn với 7 năm trước, Anh trông phương phi với nét mặt hồng hào, ánh mắt tinh anh trở lại. Anh thật sự nhìn trẻ hơn trước, với cách ăn nói và dáng điệu của một con người có tự tin, đầy sức sống. Như muốn tôi vừa là nhân chứng vừa là thân quen để Anh chia xẻ tâm tình, Anh đi ngay vào câu chuyện.

Đến Hoa Kỳ khi gần 50 tuổi, Anh bắt đầu cuộc sống mới bằng cách đi học lại trong 2 năm, và nay Anh là nhân viên sở công chánh nơi thành phố Anh ở. Chị làm tá viên điều dưỡng cho một viện dưỡng lảo gần nhà. Cô con gái đầu thành công trong nghề nail, vừa sang lại một tiệm riêng, có chồng và một đứa con trai. Cô con gái út đang còn học năm cuối chương trình Nursing. Con trai đầu của vợ sau là một kỷ sư Điện, còn độc thân. Con trai thứ hai hiện học ngành Physical Therapy. Anh chị mua được cái nhà, ở chung với cô con gái út và 2 cậu con trai.

Tôi lên tiếng chung vui, hãnh diện với Anh về những gặt hái tốt đẹp của gia đình Anh trong thời gian ngắn chỉ 7 năm trên quê hương thứ hai này. Tôi nói ra sự nhận xét của mình khi nhìn thấy Anh măt mày rạn rở và hạnh phúc, miệng cười tươi thắm, thật khác hẳn khi gặp Anh lần đầu tại đất Mỹ. Hẳn phải có một điều gì huyền diệu đã xẩy ra!

Một buổi chiều cách đây vài năm, theo một người bạn đến nhà thờ Tin Lành, Anh nghe vị Mục Sư rao giảng đề tài “Tha Thứ và Độ Lượng”. Tha thứ người để người tha thứ ta! Độ lượng với người cũng như độ lượng với chính mình trong mưu tìm hạnh phúc! Bài giảng như ánh sáng nhiệm mầu chiếu thẳng vào tâm hồn.  Anh tỉnh dậy và bổng nhìn ra chân lý. Sự cảm thông sẽ dễ dàng dẫn đưa đến lòng tha thứ. Thời gian giúp xoa dịu và chữa lành bao vết thương lòng. Những lời giáo huấn đưa Anh ra khỏi hận thù uất ức. Nâng tâm hồn Anh lên khỏi sự khinh ghét, dẫn đến tình thương độ lượng. Anh may mắn tìm được niềm tin mới và sự bình an trong tâm hồn.

Qua bao nhiêu năm, Anh cũng đã từng ân hận, dằn vặt về những lổi lầm trong đời binh nghiệp của mình. Càng nhớ đến những chiến trận, Anh càng thấy được những sai trái lớn nhỏ trong chỉ huy, những thiếu sót tham mưu, những hy sinh đáng tiếc hoặc không cần thiết của binh sĩ thuộc quyền. Có hay không Anh thực sự một vị chỉ huy giỏi, kinh nghiệm và trách nhiệm như Anh vẫn thường nghĩ?! Có hay không Anh thực sự được thương mến, kính nể mà không phải vì chức vụ thượng cấp của Anh?! Và có hay không Anh đối xử công bình, có trên có dưới, thương yêu đùm bọc thuộc cấp của mình?!

Anh chẳng thể quên tiếng khóc của cha mẹ những binh sĩ tử trận, những ai oán của cô nhi quả phụ. Như trường hợp thằng đệ tử thân tín từng theo Anh bao nhiêu năm, lo cho Anh từng bửa ăn, pha cho Anh từng ly cà phê, đào hầm ngồi canh cho Anh trong đêm, mang áo quần treo mùng cho Anh…Thế mà vì nó trình diện đơn vị trể 15 ngày sau khi đã được nghỉ phép 1 tuần về thăm nhà, Anh nổi giận, đưa nó ra bên ngoài với trung đội tác chiến, để chưa đến 5 ngày sau thì nó bị chết vì đạp mìn.

Câu chuyện về cái chết của thằng đệ tử luôn ám ảnh và dày vò lương tâm Anh. Rồi bao nhiêu thương binh, bao nhiêu tử sĩ khác, mà Anh vẫn mãi nhớ mặt nhớ tên, nhớ luôn cả từng địa điểm đụng nặng hay đụng nhẹ, trong làng mạc, trên cánh đồng lúa, trên con đường ruộng hay cạnh bìa rừng…Chính những vui buồn đời quân ngũ đó, những hình ảnh chiến đấu đó đã đóng khung trong đầu Anh và vẫn tồn tại trong tim óc Anh qua bao năm trong tù, nhiều và nhiều gấp bội so với những kỷ niệm Anh có với vợ con.

Rồi còn chuyện Anh lấy vợ nữa. “Ông thầy” lấy con gái “đệ tử”, đâu giống mấy chuyện tình bình thường.

Từ thủa mới về đơn vị, vì Anh độc thân và không có gia đình tại chỗ nên một người Trung Sĩ thường xuyên mời “Ông Thầy” về nhà chơi. Ròng rả mấy năm, mối quan hệ Thầy Trò càng khắng khít, nhất là khi Anh thăng cấp dần và người Trung Sĩ được gắn lon Thượng Sĩ. Chuyện lấy con gái cưng của vợ chồng ông Thượng Sĩ thuộc cấp này tự nhiên đến mà ngay chính Anh cũng ngạc nhiên khi nhận lời.

Không hẳn như tiền định, nhưng như một sắp đặt khó từ chối khi cha nàng ướm lời trong một bửa tiệc của đơn vị. Bấy giờ nàng chỉ là một cô bé 18 tuổi đang học lớp 12. Đối với Anh, lấy vợ trong lứa tuổi cần lấy vợ, vào giai đoạn mà đàn ông, nhất là trong giới võ biền, thường nghĩ đến sau khi đã có một chút danh phận. Anh biết đây không phải là một mối tình say đắm vì Anh không còn ở lứa tuổi bồng bột đam mê. Chính vì vậy Anh không có những rung động thật sự bên nàng, chưa có những câu nói tình tứ với nàng. Không phải chầu chực săn đón nàng. Không có những kỷ niệm hữu tình, những khung cảnh lãng mạn bên nhau. Không luôn những phút lưu luyến, những cử chỉ gắn bó. Có một cái gì đó khiến cuộc sống vợ chồng có phần lổi nhịp. Anh thường tự hỏi có thể số tuổi 12 năm cách nhau giữa vợ chồng khiến Anh thầm xem nàng như một người vợ bé bỏng cần nơi nương tựa vững vàng, và Anh quả là một ông chồng quyền uy, vì nếu cần liên lạc với nàng, đôi khi anh chỉ nhắn qua cha nàng, thế là xong.

Còn về phía nàng?

Nàng lớn lên trong một gia đình có khuôn khổ nề nếp quân đội, với người cha cứng rắn trong phong cách. Khi cha mẹ nàng quyết định nàng nên lấy Anh, vừa là một ông Đại Úy vừa là một Ông Thầy, ông xếp của cha, nàng không có lý do từ chối và cải lời cha mẹ. Có thể nàng cũng bị choáng ngợp vì Anh là thượng cấp của chính cha mình, vì Anh được cả trăm binh sĩ chào kính, vì Anh có chức vị đem đến sự ổn định cho cuộc sống tương lai... Yêu chồng hẳn là chưa yêu nhưng kính phục và thỏa mãn hãnh diện với chúng bạn là điều đương nhiên. Một vài người bạn cùng trường cũng có người yêu là lính, nhưng cùng lắm chỉ là chuẩn úy hay thiếu úy gì đó chứ làm gì tới chức Đại Úy như Anh. Nhìn Anh trong quân phục nàng thấy Anh hiên ngang và oai dũng, giống như cha mình vậy. Có được tấm chồng như Anh cũng được rồi, kén chọn chi nữa! Mẹ nàng đã chẳng từng nói như vậy, thêm rằng cha nàng nay là Thượng Sĩ và sẽ mãi mãi là Thượng Sĩ. Nhưng chồng tương lai của nàng nay là Đại Úy, mai đây lên lon, sẽ là Thiếu Tá, Đại Tá hoặc ngay cả Tướng cũng không chừng! Cả nhà ta sẽ thơm lây…

Khi vận nước thay đổi, chồng ở tù cải tạo, số tiền nhỏ nhoi dành dụm từ lương hàng tháng của chồng cạn mau. Gia đình nàng sa sút theo thời gian, bán dần đồ đạc của cải trong nhà cũng chẳng thể cứu vãn. 22 tuổi với 2 đứa con dại trong tay, chưa một lần đụng chạm với đời ngoài bổn phận làm vợ, làm mẹ, nay nàng đành bung ra thế giới bên ngoài tìm cách mua bán làm ăn, bôn ba hùn hạp với các bạn hàng khác và đơn độc chống trả nhiều cạm bẩy. Quá mệt mỏi và tinh thần căng thẳng, nàng chẳng có mấy thì giờ nghĩ đến chồng. Nhưng ông trời không có mắt, mớ vốn liếng ít ỏi cũng mất sạch. Cha nàng, người từng dạy khôn nàng phải lấy ông Thầy Đại úy của mình, nay lãi nhãi muốn nàng bỏ chồng- vì trước sau gì nó cũng không có ngày về và sẽ chết trong tù- để lấy người bạn học trước đây với nàng. Người đó chạy mối bán thuốc tây và hàng ngoại rất khấm khá và tháo vát. Đến đường cùng và để tránh bị đuổi đi kinh tế mới, nàng đành buông theo số phận, yên lặng bỏ người chồng trước. Biết làm như vậy là có lổi nặng với chồng trước, nhưng thà nàng về làm vợ với một người đứng đắn, từng quen biết và thầm kín yêu nàng qua bao nhiêu năm còn hơn là phải nhắm mắt chung chạ với cả trăm người để mưu sinh. Có trời mới hiểu được cái khổ của nàng trong quyết định mà bên nào cũng chỉ là phần thua thiệt.

Từ khi định cư, qua thời gian sống chung với các con, nghe các con gái kể chuyện về Mẹ, nhắc Mẹ từng yêu thương chăm sóc cho chúng, bảo vệ chúng khi bị bạn hàng xóm ăn hiếp; và Ba Dượng cưu mang đùm bọc cả gia đình, yêu thương chúng như con ruột của mình, y như 2 đứa nhỏ sau này. Chúng ghi nhận từ ngày có Ba Dượng, cuộc sống gia đình có phần ổn định hơn. Các con Anh chẳng được biết nhiều về Bố của mình cho đến ngày Anh xuất hiện. Bà Ngoại có giải thích đôi chút, nhưng Mẹ vẫn giữ im lặng. Chúng luôn bênh vực Mẹ và bày tỏ uớc mong Bố thấu hiểu cảnh khổ của Mẹ và gia đình nhất là trong những năm đầu sau khi Bố đi tù. Tâm sự của các con và lời rao giảng của vị Mục Sư giúp lòng Anh nhẹ hẳn từ đó. Không còn thắc mắc về những bất hạnh xẩy ra cho đời mình trước đây, Anh dần dần thấy cuộc đời trong sáng hơn và có lại niềm tin vui.

Các con Anh đã làm giấy tờ bảo lãnh Mẹ, Ba Dượng và 2 em qua Mỹ. Chính Anh là người thúc đầy làm giấy tờ, và theo dỏi tình trạng cứu xét đơn. Anh thường nhắc nhở 2 con gái dành dụm tiền gởi về cho Mẹ và Ba Dượng. Chính Anh cũng thường xuyên đóng góp phần mình. Thỉnh thoảnh Anh có nhận một vài lời gởi thăm của nàng qua thư con gái. Trong một thư gần đây nhất, nàng viết “Xin hảy tha thứ cho em và tha thứ cho nhau”. Như một trả lời cho lá thư dài Anh gởi nàng kèm theo trong cùng lá thư của con mà trong đó Anh đã viết, lần đầu tiên, lời cám ơn nàng đã thay Anh nuôi 2 con gái từ nhỏ cho đến khôn lớn, trong suốt thời gian Anh không có mặt và cả 7-8 năm sau khi Anh ở tù về. Nay đến phiên Anh sẽ tiếp tục chăm sóc các con cho nên người tốt. Anh không quên nhấn mạnh lòng biết ơn của mình đối với nước Mỹ đầy tình người. Nhờ đó Anh mới giác ngộ và tìm thấy mùa xuân đang từ từ nở muộn trong tuổi già.

Hè 2009, chúng tôi lại gặp nhau, lần này được giới thiệu với một cặp vợ chồng trẻ tuổi hơn. Họ là Mẹ và Ba Dượng của 2 con gái, vừa đuợc bảo lãnh qua Mỹ khoảng 6 tháng. Xum họp nào cũng vang dậy những tiếng cười, tiếng vổ tay, tiếng cụng ly và những lời chúc tụng. Đó là âm thanh của vui mừng hội ngộ, của hạnh phúc, của tình thân lẫn trong giọng nói của Anh, sảng khoái và nồng ấm.

Mẹ và Ba Dượng cùng một con trai và một con gái tạm thời ở chung với gia đình con gái đầu của Anh. Con gái đầu nay làm chủ 2 tiệm nail và có 3 con. Chồng nguời Việt và làm về bảo hiểm. Con gái thứ hai của Anh là một Registered Nurse từ nhiều năm qua, hiện làm cho một bệnh viện trong thành phố; lập gia đình với chồng người Mỹ chuyên viên về Siêu Âm và có 2 con. Con trai lớn kêu Anh bằng Tía, một kỷ sư điện, có vợ người Mỹ gốc Mễ và 2 con. Con trai thứ hai cũng kêu Anh bằng Tía, hành nghề Physical Therapist, lấy vợ Mỹ gốc Trung Hoa, cùng nghề với chồng và cũng có 2 con. Mẹ đang theo học nghề nail với con gái lớn. Ba Dượng đang lấy lớp học Anh Văn ở Đại Học Cộng Đồng. Con trai đầu của Mẹ và Ba Dượng có ý muốn theo học nghành cơ khí sửa xe hơi, và con gái út dự định học Medical Assistant.

Đại gia đình họ ở trong cùng một thành phố với nhau, nhà này cách nhà kia không quá 15 phút lái xe. Tôi chọc Anh mổi khi họp mặt gia đình kiểu Hiệp Chủng Quốc này, làm sao biết tên để gọi nhau cho đúng mà không sợ lộn xộn. Anh nhanh chóng trả lời dể ẹt. Nếu kêu Bố hay Tiá thì đó là Anh, kêu Má tức là vợ sau của Anh, kêu Mẹ tức là vợ của Dượng đồng thời mẹ của 2 con gái Anh và của 2 đứa con trai và con gái sau này. Nếu nghe gọi Ba hay Ba Dượng thì đó là dượng sau của mấy đứa con gái Anh. Còn 9 đứa cháu, chỉ cần kêu Grand Pa và Grand Ma là đủ. Và chúng có đầy đủ 2 sets Grand Pa và Grand Ma.

Chuyến đi chơi liên tiểu bang đầu tiên của đại gia đình Anh, với tất cả con trai gái, dâu rể và cháu nội ngoại. Lớn nhỏ tất cả gồm 23 người, trong một đoàn convoi nhiều xe do Anh lên chương trình kế hoạch, chỉ huy và dẫn đầu. Cuộc đi chơi này là một món quà đón mừng Mẹ và Ba Dượng được đoàn tụ. Chốc nữa, Anh sẽ lái xuống San Diego đến chổ hẹn với các xe kia. Mọi người cười lớn khi nghe tôi nói Anh bây giờ xệ hơn trước nhiều vì bị giáng cấp, từ một Tiểu Đoàn Trưởng nay chỉ là một Trung Đội Trưởng, lúc xưa hét ra lửa và oai biết bao nhiêu, bây giờ con cháu sai đâu chạy đó. Anh thành thật trả lời Anh may mắn nhiều và rất hạnh phúc mới còn có trung đội để chăm lo.

Phải chăng sự cởi mở về tư tưởng, sự bao dung và quảng đại của xã hội Mỹ đã khiến con người dễ hướng thiện và vị tha. Rỏ ràng nhất, nước Mỹ luôn mở rộng tấm lòng đón nhận các nạn nhân chiến tranh, tạo cho họ mọi cơ hội để vươn lên, làm lại cuộc đời. Ở đâu trên thế giới có thiên tai là ở đó có sự hiện diện và giúp đở của nước Mỹ. Ngoài đường phố, trong hội quán, đâu đâu cũng nghe những chào hỏi thân mật và tiếng cám ơn. Từ trường học cho đến cơ sở công tư, nhà thờ, đâu đâu cũng kêu gọi làm việc thiện nguyện, thăm viếng người già cô đơn, giúp đở kẻ bất hạnh, nghèo khó, tàn tật. Đâu đâu cũng đóng góp cho quỹ cứu trợ, cứu đói, cứu giúp người vô gia cư… Và đâu đâu cũng có những câu chuyện, dĩ nhiên, tương tự như câu chuyện của Anh. Những câu chuyện muôn thủa của tình thương và tha thứ, của khoan hồng độ lượng.

Tin giờ chót, vợ chồng người Thượng Sĩ già cũng vừa xum họp với đại gia đình, qua sự bảo trợ của chính con gái mình. Chúng tôi hẹn sẽ đến thăm Anh vào dịp lể Thanksgiving năm nay. Trước là để chung vui, kế để xem thử ai là người trung đội trưởng của clan. Vẫn là Anh hay Anh đã truyền chức lại cho người thuộc hạ thân tình ngày xưa.

May 2015. Mission Viejo, CA

Vĩnh Chánh

NHẬT KÝ MỘT ÔNG CHỒNG


Nhật ký của một ông chồng có bồ 

Ngày… tháng… năm

Mình tỉnh giấc lúc bảy giờ. Bên cạnh “mụ ” vẫn ngủ say. Nhẹ nhàng, len lén ra ngoài, mở di động lên coi. Em nhắn, nội dung loanh quanh vẫn thế “nhớ anh-yêu anh”. Rõ khổ, vốn từ nghèo nàn. Đã bảo không được nhắn lung tung, có ngày “mụ” vớ được thì nhừ xương. Trời ơi, tôi có tự do đâu hả trời? Thân tôi sao khổ thế này!

Vội vã đánh răng rửa mặt. Từ trong phòng “mụ” hỏi vọng ra: “Anh ăn sáng rồi hãy đi, có cơm nguội trong nồi đấy”!. Trời ơi, nhà này cái gì chả nguội. “Thôi, anh vội lắm, anh phải đến công ty”. Phi thật nhanh ra khỏi nhà. Thoát, thoát, thoát…. Đến cà phê ngồi với em yêu. Em đến chờ từ lúc nào, mặt tươi như hoa, tóc xòe như nụ. Trên bàn là vi tính với di động, nom đúng cách tân kỳ, chả bù cho “mụ” ở nhà, lúc nào cũng gần bồi với giẻ lau. “Ngồi đi anh”. Mình nháo nháo nhìn quanh chỗ này vắng, kín đáo, nhưng không nên ngồi lâu quá thế nào cũng có lúc gặp người quen. Mình chạm nhẹ vào tay em. Dụi dàng, thơ mộng, ngất ngây. Chết cha, ai như thằng Hùng? Đúng rồi, nó đi với ai không phải vợ. Chắc cũng ăn vụng như mình. Nháy mắt nhìn nhau. Anh em mà. Hiểu hết.

Ngày …tháng…năm

Trưa nay em hẹn ăn cơm. Trong khi ấy “mụ” lại sai đi mau cái bếp gas. Mình giải quyết bằng cách mua bếp trước, trốn khỏi cơ quan vào lúc mười giờ. Thế là hai bên trọn vẹn. Hai đứa ăn cơm Huế. Em đọc cho mình nghe một bài thơ, thoáng buồn. Nghĩ tới mười năm trước, “mụ” cũng đọc cho mình một bài thơ. Của đáng tội “mụ” không phải là thiếu dễ thương, chỉ có mười năm nồi xoong, con cái đã làm phai mờ nhiều quá. Chợt cảm thấy mình hơi tội lỗi. Trời ơi, sao tôi lại là người đàn ông hả trời? Đàn ông sẽ phạm tội tày đình nhưng biết thế mà không sửa chữa.

Em hỏi “Ngày mai mình có đi Tam Đảo không anh?”. Giật mình trả lời nhanh: “Để anh nghĩ đã”. Em chẳng hiểu gì cả, Tam Đảo tuy thơ mộng nhưng là chỗ trăm mắt nhìn vô, lên đấy gặp người quen thì tan xương với “mụ”

Chiều về mụ khen cái bếp ga sau khi hỏi giá. “Mụ” nhìn nó say đắm trong khi chẳng nhìn mình. Tủi thân. Buồn. Tức tối. Nhếch môi. Đã thế “ông”có bồ đừng trách, “ông” đâu phải là thứ vứt đi. Vừa nghĩ xong thì “mụ” quay ra bảo: “Tắm đi anh, em đã chuẩn bị nước và xà phòng rồi”. Ôi, tôi khổ quá, vợ tôi cũng dễ thương. Tội của tôi ngàn năm không hết. Đau. Nghẹn. Buồn.

Đang ăn cơm thì di động kêu. Em gọi! Điên hay sao mà gọi giờ này. Nói bao nhiêu lần không chừa được. Mình giữ mặt thản nhiên, áp máy vào tai: “Alo-Tôi nghe- Dạ- Dạ. Được. Được. Tôi hiểu rồi. Tôi sẽ chấp hành triệt để. Công việc cứ thế, đừng lo!”. Đóng máy. Gắt: “Sao sếp kỳ quá! Không lúc nào cho anh được yên!”. Vợ an ủi: “Thôi, đi làm là phải vậy”. Thở ra. Thoát. Suy cho cùng, em cũng là sếp còn gì.

Ngày…tháng…năm

Chở em đi phố mua đồ. Em cứ hớn hở tươi cười, còn mình phải đội cái nón bảo hiểm cực to, hạ kính xuống cho che hết mặt. Mình liệt nhiệt hoan nghênh phong trào đội mũ bảo hiểm, không sợ đứa nào nhận ra. Hôm qua mình cũng cười thầm khi thấy Hùng cũng sắm một chiếc mũ to như như thế. Lòng vả cũng như lòng sung.

Mua cho em một chiếc áo da. Hơi đắt, nhưng mình ra dáng thản nhiên. Em mặc vào, nổi rõ eo thon. Mình nhói lên. Ừ, cái áo cuối cùng mua cho “mụ” là năm nào nhỉ? Tôi xấu quá. Tôi ơi. “Gió đưa cành bưởi sau hè, anh mê vợ bé bỏ bè con thơ”. Câu ca dao phảng phất như mưa xuân. Một giọt nước mắt lăn trong lòng.

Lại chở em, hai đứa đi ăn chân gà. Xe bon bon. Em ngồi sau ríu rít nói về thơ, về văn, về nhạc. Em ơi, rồi em sẽ là vợ, sẽ nói về cơm, về gạo, về rau. Trời nắng nhẹ, mưa cũng nhẹ luôn. Trên đường phố, hoa đào lác đác. Xuân về. Lòng mình man mác buồn và có gì đấy thấp thỏm không yên. Qua khỏi ngã tư. Em ngân nga tiếng hát. Rầm. Xe mình đâm vào chiêc xe máy đi ngược chiều, làm cô lái xe và đứa bé trên đó ngã lăn quay. Cả hai lồm cồm bò dậy. Mũ bảo hiểm văng ra. Trời ơi, “mụ!" Chết tôi rồi. Thần thánh hại tôi rồi. Mình đứng ngây ra như cây gỗ mục...

SƯU  TẦM


BA LẦN LẤY CHỒNG


 BA LẦN LẤY CHỒNG
Khi bỏ chồng đầu con Tím mới ba hai tuổi, còn giòn lắm. Có một kinh nghiệm xưa nay, đàn ông đàn bà đều vậy, vừa ly dị phải lo kiếm vợ lấy chồng ngay, để lâu mất hết nhuệ khí, cái duyên cũng mất đi, càng để lâu càng khó bước thêm bước nữa. Biết vậy nên bạn bè gặp nó ở đâu cũng hỏi nó léo nhéo, nói chồng chưa.. chồng chưa. Con Tím nhăn răng cười, nói chưa. Lập tức cả bọn xúm lại rối rít bày cách kiếm chồng cho nó. Con Tím đá cho mỗi đứa một phát, nói cút cả đi, tao ớn chồng con đến tận cổ rồi, cấm tụi bay nói chuyện đó.

Nó ớn chồng thật, bất kì đâu vào ra cũng chỉ dắt díu lấy hai đứa con, tuyệt không ăn diện trang điểm gì. Khốn nỗi gái xinh có mặc áo tơi đội nón rách vẫn xinh. Đàn ông vẫn đeo lấy nó cả đàn, bám như đỉa đói. Đối phó với đám này lắm khi mệt bở hơi tai, con Tím nhiều lần phải cầu cứu đến mình. Chẳng phải mình tài giỏi gì, chẳng qua mình diễn kịch được và hay có mẹo cứt gà.

Một hôm mình vừa cơ quan ra cổng, bỗng nhiên con Tím lao xe đạp đâm thẳng tới mình, nói anh đi mô em tìm không ra? Chồng con chi lạ, bỏ người ta đi một mình. Nhác thấy sau nó một thằng trai lơ mình hiểu ngay vấn đề. Mình tiến về phía thằng đó giữ chặt ghi- đông xe đạp của nó, nói tao là Lập, Lập sẹo chợ Đông Ba đây. Thằng kia mặt mày tái mét, mình hất hàm về phía con Tím, nói cô kia là vợ tao, nhớ lấy mặt tao…tránh xa con vợ tao nhé. Thằng kia lí nhí dạ dạ rồi chuồn thẳng.

Hôm khác vào nửa đêm nó gọi điện về nhà, nói mi sang nhà tau ngay. Mình hỏi sao. Nó nói có một thằng cứ ở lì không chịu về, mi sang đuổi hắn về cho tau với. Mình cười, nói đuổi được thằng đó về thì tau ở lại nha. Nó cười, nói ông cố nội mi, sang mau lên. Mình sang, ngó qua cửa thấy thằng bạn nhậu của mình. Thằng này chết vợ, nó mê con Tím thật chứ không phải dân Đông Gioăng nhưng con Tím ghét nó cực kì. 

Mấy lần con Tím tìm mình, lạy lục phúc bái mình giải tán thằng này giùm nó. Mình nói thằng này công an khôn như cáo không lừa được, muốn giải tán mi phải cho tau nói xấu mi. Nó gật đầu cái rụp, nói thoái mái đi, kể cả việc nói tau không bướm.

Mình giả đò say gõ cửa nhà con Tím, thằng kia mở cửa, mình một hai nằng nặc rủ nó ra quán. Uống được một hai chén mình hỏi thằng này, nói mày mê con Tím thật à. Nó nói thật, tao muốn lấy nó làm vợ. Mình hỏi mày biết con Tím mấy chồng không. Nó bảo thì nó vừa bỏ thằng Lam đẹp trai, có đâu mà mấy chồng. Mình kéo đầu nó rỉ tai, nói chuyện bí mật ông đừng cho ai biết nhé. Nó bảo sao. Mình nói trước đây nó yêu ba thằng chết cả ba, toàn chết trên bụng nó. Đến lượt thằng Lam lấy nhau được ba năm mới bị, lần này nó rút kinh nghiệm cứ để yên vậy kêu hàng xóm tới khiêng cả cặp tới bệnh viện, nhờ thế thằng Lam mới thoát chết. 

Sau vụ đó thằng Lam mới biết trước đó đã có ba thằng chết vì vợ nó rồi, thằng Lam hãi quá bỏ của chạy lấy người. Thằng này mắt trợn mồm há, mình càng kể cái miệng nó càng há dần ra, hi hi. Hết chuyện nó ngồi chậc lưỡi ba bốn tiếng, nói rứa à rứa à… nguy hiểm quá nguy hiểm quá. Từ đó thằng này lặn một hơi không sủi tăm, he he.
         Sau vụ đó bẵng đi một thời gian dài mình không gặp con Tím, rồi chia tỉnh chia 
        teo lạc nhau cả mấy năm trời. Cuối năm 1992 mình từ Quảng Trị vào Huế, đang 
        nhậu với thằng Ngọc Bình ca kịch Huế thì con Tím trờ tới, nói vô khi mô không 
        báo tau thằng tê. Mình kéo nó vào mâm nhậu, nó nói chờ tí rồi chạy ra lôi một 
        thằng cu con vào, nói đây là con trai chị Điểm. Mình à và cười, nhắc lại chuyện 
        anh Đoàn chị Điểm ngày xưa. Lôi cả chuyện con Tím cầm cu anh Đoàn, con 
       Tím lườm mình hai ba lần, nói thằng ni vô chưa, nhắc chi ba chuyện đó hè.
Vì thằng cu là con chị Điểm nên mình gọi nó là cháu xưng chú. Thằng cu chừng hai lăm hai sáu tuổi cười cười nhìn mình không nói gì. Gần cuối bữa nhậu mình đã ngà ngà say, con Tím chắc cũng thế. Nghe mình cháu cháu chú chú với thằng cu nhiều quá nó chỉ thằng cu con, nói đây là chồng tau đó, mi đừng có lộn xộn. Mình ngạc nhiên quá trời.

Sáng sau con Tím rủ mình đi cà phê để nó trần tình vụ ông chồng hỉ chưa sạch mũi của nó. Té ra chị Điểm có đứa con học trường âm nhạc Huế 5 năm rồi mà mình không biết, chị gửi thằng cu cho con Tím cho nó ăn ở cùng. Suốt 5 năm không có việc gì xảy ra, vẫn cô cô cháu cháu rất ấm cúng, cho đến ngày nó tốt nghiệp ra trường vẫn cô cô cháu cháu rất ấm cúng. Chẳng may thằng cu không xin được việc làm, nó chạy hai ba chỗ không nơi nào nhận, suốt năm trời nó vẫn ăn ở nhà con Tím. Rồi đụng nhau ở cầu thang, ở bếp, ở buồng tắm… rồi dính vào nhau từ lúc nào không biết nữa.

Con Tím tỉnh hơn, nó nói với thằng cu, nói ông không lấy tôi được mô, tôi hơn ông một giáp lấy răng được mà lấy. Bây giờ nếu ông thích cứ lặng lẽ ăn ở với tôi, khi nào chán tôi ông cứ thoải mái đi lấy vợ, thế là tiện nhất. Nhưng thằng cu không chịu. Không chấp nhận kiểu chơi ngoài mặt cô cô cháu cháu, đóng cửa buồng mới được anh anh em, nó dứt khoát đòi cưới con Tím cho bằng được. Mình hỏi con Tím, nói thằng cu yêu mi thiệt à, con Tím nói thiệt. Mình hỏi mi có yêu nó không, con Tím nói yêu. Mình hỏi thiệt không, con Tím nói thiệt. Rồi bưng mặt khóc.

Mình biết con Tím “ đau” không phải việc nó lấy một thằng cu con, cu nào cũng là cu, tình yêu đâu có phân biệt cu con cu lớn, hi hi. “ Đau” nhất, cũng điều con Tím nghĩ nó không thể vượt qua được, chính là thằng cu là con trai của bạn nó, công nhận “đau” cực, hu hu. Đành rằng chị Điểm bậc chị nhưng dù sao cũng là bạn học thiếu thời, nó với chị Điểm thân nhau con chấy cắn đôi, xảy ra chuyện này làm sao nhìn được mặt nhau, còn bảo nó với chị Điểm gọi nhau là mẹ con thì thật quá đắng.

Con Tím kể nó đã mấy lần đuổi thằng cu ra khỏi nhà nhưng không được, mấy lần nó xách con bỏ nhà đi khỏi Huế cũng không được. Té ra xưa nay con Tím chưa bao giờ yêu, nó cũng chẳng ngờ tình yêu lại khủng khiếp như vậy. Nhưng với bản tính lì lợm nó vẫn hy vọng có ngày tình sẽ vơi đi, thằng cu sẽ nghĩ lại, nó sẽ cắt được khối tình đắng ngắt này. Con Tím cố tránh không có con với thằng cu, hai ba lần dính thai nó đều bí mật vào viện xổ ra hết. Lần cuối cùng thằng cu phát hiện ra, nó chặn lại và tuyên bố cưới nhau, bất kể con Tím có chịu làm giấy kết hôn hay không nó cũng làm lễ cưới để tuyên bố với thiên hạ con Tím là vợ nó.

Giây phút thằng cu gọi điện về nhà mới rùng rợn. Chị Điểm cầm máy, bao giờ thằng cu gọi điện về chị cũng mừng rỡ, nói mạ đây mạ đây…. Nghe nó bảo sẽ cưới vợ chị mừng rú lên, hét vang vang, nói cưới ai con… cưới ai con? Nó bảo vợ con là cô Tím đó mạ, chị vẫn hồ hởi phấn khởi, nói Tím à Tím à, khi mô đem về cho mạ coi mặt. Thằng cu nhắc lại mấy lần chị mới hiểu vợ con trai mình chính là bạn học của mình, khủng khiếp hơn nữa đó là người đàn bà 37 tuổi đã có hai con. Chị đứng cứng ngắc mặt tái dại. Mấy phút sau chị rú lên một tiếng kinh hoàng, nói ôi con ôi!… Và ngã lăn ra bất tỉnh.

Mấy hôm sau thằng cu nhận được điện tín: Về nhà với mạ ngay, từ nay mạ con mình no đói có nhau. Mấy hôm sau thằng cu nhận thêm một điện tín nữa: Nếu con không về mạ sẽ tự tử. Thế cùng con Tím phải theo thằng cu về nhà chị Điểm.

Chị Điểm cấm cửa không cho con Tím vào nhà, con Tím lặng lẽ nhìn chị Điểm rồi quì sụp xuống, nó cứ quì trước cửa nhà chị Điểm, quì từ trưa ngày hôm trước cho đến sáng ngày hôm sau thì ngã vật ra trước ngõ. Chị Điểm chạy ra ôm lấy con Tím, họ ôm nhau khóc, vừa khóc vừa gọi nhau mạ ơi con ơi nghẹn ngào cay đắng, như kiếp trước họ đã từng nghẹn ngào cay đắng gọi nhau như thế.


Sau bữa cà phê với con Tím, tết mình đem vợ con về quê. Nghe tin mình về quê chị Điểm nhắn hai ba nhắn, nói cu Lập tranh thủ lên nhà chị chơi, có việc. Không lên chị giận đó nghe. Mình lên.
Mình hỏi chị Điểm, nói tụi nó răng rồi chị? Chị thở hắt, nói răng nữa. Lấy nhau chơ răng. Nhưng tao nghi kiểu đó không được ba bảy hăm mốt ngày mô. Mình hỏi sao, chị chép miệng nói tính con Tím tau biết, thích thì chết cũng đeo lấy, hết thích ba vạn cũng bỏ. Tính thằng cu nhà tau cũng rứa. Bây giờ chúng nó đang hạnh phúc nhưng ngó bộ éo le lắm em ơi. Mình nói chị đừng lo xa quá, chuyện hạnh phúc gia đình không ai biết trước được, chị cứ để vậy, đến đâu hay đó chị ạ. Chị lắc đầu thở dài, nói để răng được mà để, tau gọi mi lên để tính giùm cho chị đây.
Chị Điểm ngước lên nhìn mình đầy van lơn. Mình nói em chẳng có cách chi mô, thấy có một cách cổ điển thiên hạ vẫn hay dùng. Chị hỏi cách chi, mình nói nên để thằng cu đi xuất khẩu lao động chừng dăm năm…Sang đó trước sau nó cũng quên con Tím, nếu không quên được sẽ có cô gái trẻ đẹp khác giúp nó quên. Mắt chị Điểm sáng lên, nói ừ, e phải đó hè. Em giúp chị nghe. Mình ok liền, nói việc này em lo được, đang có đợt công nhân xuất khẩu sang Đức. Hai tay chị Điểm chụp lấy tay mình nói rối rít giúp chị nghe em, giúp chị nghe em.
Ra tết mình vô Huế gặp con Tím bàn chuyện cho thằng cu đi xuất khẩu, chị Điểm cũng đã gọi điện bàn với nó rồi. Nhưng thằng cu không chịu đi, dứt khoát không. Con Tím nhìn mình buồn buồn, nói hay là mi xin cho tau đi. Mình nói cũng được nhưng nếu thằng cu cũng không chịu thì răng. Con Tím dướn mắt lên cười nhạt, nói quyền chi hắn? Mình nói mi đã cho hắn được cái quyền làm chồng thì hắn phải có cái quyền đó chớ. Con Tím ngồi trơ thở hắt, nói ừ hè. Tự nhiên con Tím bật cười, nói cái số tau vô duyên chi lạ. Dứt lời nước mắt nó chảy ròng ròng.
Bây giờ mình mới nhìn thấy vệt thâm tím dưới mang tai con Tím. Vệt thâm tím chỗ đó không thể nói dối vấp ngã được. Mình nói thằng cu đánh mi à, hắn ghen quá phải không? Con Tím khẽ gật đầu. Mình nói lần nào đánh xong hắn cũng quì lạy xin lỗi mi phải không? Con Tím khẽ gật đầu. Mình nói mi tính bỏ hắn nhưng không được phải không? Con Tím khẽ gật đầu. Mình nói mi sợ bỏ hắn thì hắn sẽ đâm đầu vào tàu hỏa tự tử phải không? Con Tím giật mình trợn mắt, nói ủa chớ răng chuyện chi mi cũng biết.
Mình chả biết gì hết nhưng trò đời là vậy. Chuyện này mình gặp nhiều rồi. Xưa có chị H. yêu thằng cu con, nó ghen đánh chị ghê quá. Mình bảo chị bỏ quách đi, chị nói chị cũng muốn bỏ lắm nhưng nó đã dọa rồi, nếu chị bỏ nó thì nó đâm đầu vào đầu tàu hỏa chết ngay lập tức. Mình nói chị cứ bỏ đi xem nó có chết không nào. Chị H. bỏ thằng cu, chẳng thấy nó đâm vào đầu tàu hỏa mà đâm đầu vào một cô ả khác. Lại còn viết thư cho chị than thở nó phải yêu một người khác để “quên đi một nỗi đau”. Mẹ sư bố thằng cu con, hi hi.
Chuyện xuất khẩu lao động cho con Tím dừng ở đó, phần vì mình phải lo chuyển cả nhà ra Hà Nội, phần vì chị Điểm có gọi điện cho mình, nói thằng cu có việc làm khá tốt ở Sài Gòn rồi. Ừ thôi, đi Sài Gòn cũng như đi nước ngoài vậy, miễn là con Tím tách được thằng cu. Mãi đến cuối năm 2002, mình vào Sài Gòn tìm nấm Linh Chi cổ, nghe nói nấm này chữa được bệnh của mình. Mình ở khách sạn gì quên rồi, phố nào đường nào cũng quên nốt.

Chỉ nhớ Hồng Ánh thuê khách sạn này vì nó sát ngay công viên để cho mình sáng sáng ra công viên tập tểnh đi bộ. Hai tuần ở sài Gòn, sáng nào mình cũng đi bộ trong công viên từ 5 giờ đến 7 giờ sáng. Một hôm mình đang chấm chấm phẩy phẩy trong công viên, một người chạy qua mình bỗng quay ngoắt lại nhìn mình trân trố rồi vỗ tay đánh bốp kêu to, nói oa chà Nguyễn Quang Lập! Mình định thần mất gần một phút mới nhận ra đó là anh Đoàn.
Anh Đoàn ôm lấy mình cười hể hả, nói tưởng đến chết không gặp được nhau nữa, té ra quả đất tròn thiệt bay ơi! Anh lại nhấc bổng mình lên nhún mấy nhún, nói mi vô đây con Tím mừng lắm đây. Mình ngạc nhiên nhìn anh Đoàn, nói anh cũng còn nhớ con Tím à. Anh cười cái hậc, nói thằng ni nói chi lạ, làm răng quên được đứa con gái cầm cu mình từ hồi lớp 5. Hi hi.
Anh Đoàn đưa mình đi ăn sáng uống cà phê. Anh làm nghề sửa xe máy. Hiệu sửa xe của anh ở gần đây, sáng nào anh cũng ra công viên chạy mấy vòng, đi ăn sáng uống cà phê xong thì mở hiệu làm đến chín mười giờ đêm. Anh nói nhưng bữa ni tau đóng cửa hiệu chơi với mi cả ngày. Mình nói anh cứ đi làm đi, chỉ cần anh báo con Tím giùm em là được. Anh nói tất nhiên rồi, biết mi vô mà không cho con vợ tau gặp thì có mà chết với hắn. Mình sửng sốt nhìn anh Đoàn, nói con Tím là vợ anh à? Anh Đoàn nhăn răng cười, nói tất nhiên. Nó không vợ tao thì vợ ai.
Thấy mình cứ đứng trơ nhìn, anh Đoàn kéo mình ngồi xuống ghế, nói ngồi xuống đi để tau kể cho nghe. Oa chà, nhiều chuyện hay tàn bạo mi ơi. Anh kể sau vụ bị con Tím cầm cu , anh bỏ học đi lái máy cày. Sau bỏ máy cày đi lái xe tải. Được ít vốn liếng anh bỏ lái xe tải đi buôn trầm, phất lên rất nhanh và cũng sụp xuống rất nhanh vì cờ bạc. Trắng tay, năm 1995 anh bỏ vô Sài Gòn mở hiệu sửa xe máy vỉa hè, đêm ngủ nhờ dưới gầm cầu thang khu tập thể gần đó. Cuối năm 2000 một hôm con Tím dắt xe máy vào hiệu, vừa trông thấy anh nó đã rú lên vội vàng dắt xe đi ra.

 Con Tím sợ, nó nghĩ vì nó mà anh Đoàn bỏ học, chắc anh thù nó lắm. Anh Đoàn đuổi theo giữ nó lại, mắng nó te tua, nói anh em lâu ngày mới gặp nhau, chi mà sợ tau như sợ cọp rứa mi.
Từ đó anh em thân nhau, con Tím tháo khoán cái xe máy cho anh Đoàn. Bất kì xe hỏng ở đâu, hễ nó gọi là anh Đoàn xách đồ đến liền. Được hơn một năm anh Đoàn mới biết chồng con Tím là con chị Điểm.

Thằng cu vào Sài Gòn làm việc, ép con Tím phải bán nhà vào theo. Dạo này vợ chồng nó đã hục hặc lắm rồi, thằng cu đánh con Tím như cơm bữa. Nó ghen tứ tung, ghen cả với anh Đoàn. Nhiều lần con Tím phải chạy đến cầu cứu anh Đoàn. Anh Đoàn xách dao phay đến tận nhà chỉ mặt thằng cu dọa nó. Thằng cu không sợ, nó biết anh Đoàn là bạn học của chị Điểm, chắc chắn không dám làm gì nó.
Thấy con Tím bị đánh đòn mà mình không làm gì được, anh Đoàn tức lắm chửi um lên, nói con ni ngu chi ngu tàn bạo, lấy ai lại đi lấy cái thằng mất dạy đó, thà lấy tao còn hơn. Con Tím cười, nó nhắc đến chuyện xưa, nói bộ anh không mất dạy à. Anh cười khì, nói tao có thể mất dạy cả thế giới, riêng vợ thì không. Con Tím lại cười, nói được rồi, khi mô tui gặp chị hỏi xem anh có mất dạy với vợ không. Anh Đoàn hỏi chị mô. Con Tím nói chị vợ anh đó. Anh Đoàn cười cái hậc, nói vợ con mô rứa hè.
Con Tím tròn xoe mắt, nói anh không có vợ thiệt à. Anh nói thiệt chớ răng không thiệt. Tại mi đó. Con Tím nói tại tui cái chi. Anh Đoàn trợn mắt lên, nói tại mi cầm cu tao, từ đó không có đứa mô dám cầm cu tao nữa. Con Tím cười rũ, đấm anh huỳnh huỵch.
Con Tím cứ tưởng anh Đoàn nói đùa, người như anh Đoàn không có vợ thật khó tin. Nó nghĩ chắc anh có vợ con rồi, nếu không thì cũng do bỏ nhau chứ không thể không có, té ra anh Đoàn chưa hề lấy ai thật. Mấy lần con Tím đòi đến nhà anh chơi, anh nói tao không có nhà. Con Tím cứ tưởng anh đùa, đến khi mục sở thị anh ngủ tại gầm cầu thang nó mới tin anh Đoàn nói thật, từ nhà cửa đến vợ con anh Đoàn đều không có.
Chuyện gì đến rồi phải đến. Một hôm con Tím gọi điện cầu cứu, anh Đoàn bỏ việc chạy đến. Thằng cu cài chặt cửa, anh Đoàn khỏe như trâu đạp mấy đạp là cửa bung ra. Con Tím đang nằm trên vũng máu, nó bị thằng cu lột truồng ra đánh cho tơi tả . Anh Đoàn hét to một tiếng, nói cha tổ mi thằng mất dạy!… Anh lao vào đánh thằng cu túi bụi. Anh bóp cổ thằng cu, nói mi cút ngay.

 Mi lấy con Tím không hôn thú, nhà này là của con Tím, con Tím đuổi mi mấy lần mi không chịu đi. Giờ chính thức tao đến để đuổi cổ mi ra khỏi nhà. Cút ngay không oong- đơ chi hết. Thằng cu nói quyền gì ở chú mà đuổi tui, anh Đoàn nói quyền chớ răng không. Từ giây phút này tao là chồng con Tím, nghe rõ không thằng chó!
Thằng cu bị tóng cổ ra khỏi nhà. Anh Đoàn quyết định ở lại canh cửa nhà con Tím mười ngày. Anh bỏ hết việc ngồi canh cửa. Đêm đến anh cũng ngồi canh cửa từ đầu hôm cho đến sáng. Đến ngày thứ mười không thấy thằng cu lai vãng gì nữa anh Đoàn mới chào con Tím ra về. Con Tím kéo áo anh níu lại, nói anh về mô nữa, đây là nhà của anh rồi mà. Thế là họ thành vợ chồng.
Mình hỏi anh Đoàn, nói lấy nhau kiểu rứa con Tím có hạnh phúc không. Anh Đoàn trợn mắt lên, nói răng không, thằng ni hỏi chi lạ rứa hè! Con vợ tao nói trong ba thằng chồng, tau là thằng làm nó hạnh phúc nhất đó. Anh Đoàn ngửa cổ cười kha kha kha, nói đàn ông không bần tiện, không ngoại tình, không đánh đập vợ con, chim cò lại không suy thoái thì không một con vợ nào trên đời lại không hạnh phúc. Tau nói rứa có đúng không nhà văn?
He he.

Nguyễn Quang Lập (QUÊ CHOA)

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2016

9 ĐIỀU NÊN NHỚ


9 ĐIỀU BẠN NÊN NHỚ TRONG CUỘC ĐỜI

1. Đừng xem trọng bề ngoài vì nó có thể đánh lừa bạn. Đừng xem trọng sự giàu sang vì nó có thể mất dần. Hãy đến với người biết làm bạn cười, vì chỉ có nụ cười mới biến ngày buồn thành vui. Chúc bạn tìm được người như thế.

2. Có những lúc trong cuộc đời, bạn nhớ một người đến nỗi chỉ muốn kéo người ấy ra khỏi giấc mơ để ôm chặt lấy. Chúc bạn có được người ấy.

3. Hãy đến nơi bạn thích, hãy trở thành người mà bạn muốn. Bởi lẽ, bạn chỉ có một cuộc đời và một cơ hội để thực hiện tất cả những gì mong mỏi. Chúc bạn có lòng can đảm.

4. Chúc bạn có đủ hạnh phúc để được dịu dàng, đủ từng trải để được mạnh mẽ, đủ nỗi buồn để biết cảm thông, đủ hy vọng để biết hạnh phúc.

5. Khi cánh cửa hạnh phúc đóng lại, một cánh cửa khác sẽ mở ra. Thường bạn sẽ ngắm mãi cánh cửa đóng lại để rồi không thấy cánh cửa đang mở ra. Chúc bạn nhận ra cánh cửa của đời mình.

6. Người bạn tốt nhất là người có thể im lặng cùng bạn khi ngồi ngoài hiên, để rồi khi quay đi, bạn cảm thấy như vừa được trò chuyện thật thích thú. Chúc bạn có nhiều bạn bè.

7. Bạn sẽ chẳng biết mình đang hưởng gì nếu không mất nó. Bạn sẽ chẳng mong mỏi gì nếu không mất nó. Chúc bạn không biết để không chịu đau khổ như thế.

8. Luôn đặt mình vào vị trí của người khác. Nếu trong vị trí đó, bạn thấy đau, có lẽ người kia cũng sẽ cảm thấy như vậy.

9. Một lời bất cẩn có thể gây bất hòa. Một lời độc ác có thể làm hỏng cả cuộc đời. Một lời đúng lúc có thể làm giảm căng thẳng. Một lời yêu thương có thể đem lại hạnh phúc. Chúc bạn biết cách điền vào chỗ trống của cuộc đời

- ST -

ĐIỀU KHÔNG THỂ QUÊN


NHỮNG ĐIỀU KHÔNG THỂ QUÊN TRONG CUỘC SỐNG

1. Cho mọi người nhiều hơn là họ mong chờ và hãy làm điều đó thật nhiệt tình.
2. Ghi nhớ những bài thơ bạn yêu thích.
3. Đừng vội tin những gì bạn nghe.
4. Khi bạn nói yêu ai đó, hãy hiểu hết nghĩa của những từ ngữ ấy.
5. Khi bạn nói xin lỗi, hãy nhìn vào mắt người bạn đang xin lỗi.
6. Hãy đính hôn ít nhất là 6 tháng trước khi bạn kết hôn.
7. Tin vào tình yêu từ cái nhìn đầu tiên.
8. Đừng bao giờ cười vào những ước mơ của người khác.
9. Hãy yêu một cách sâu sắc và đam mê. Có thể bạn sẽ bị tổn thương, nhưng đó là cách duy nhất bạn học sống một cách hoàn hảo.
10. Khi không đồng ý điều gì, hãy đấu tranh một cách công bằng.
11. Đừng phán xét ai qua nhân thân hay hoàn cảnh xuất thân của họ.
12. Hãy bắt chính mình nói chậm nhưng suy nghĩ nhanh.
13. Khi ai đó hỏi bạn những câu hỏi mà bạn không muốn trả lời, hãy mỉm cười và hỏi lại "Tại sao bạn lại muốn biết điều đó?"
14. Một tình yêu lớn và những khám phá vĩ đại cũng bao gồm những rủi ro to lớn.
15. Hãy liên lạc với mẹ bạn thường xuyên nếu bạn sống xa nhà.
16. Theo đuổi 3 điều: tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác và có trách nhiệm với những việc mình làm.
17. Đừng để 1 cuộc đấu khẩu nhỏ làm tổn thương 1 tình bạn lớn.
18. Khi bạn nhận ra bạn vừa gây ra lỗi lầm, hãy nhanh chóng sửa sai.
19. Mỉm cười khi nhấc điện thoại lên, người gọi sẽ nghe được điều đó trong giọng nói của bạn.
20. Tranh thủ thời gian ở một mình.
21. Hãy mở rộng đôi cánh tay bạn để thay đổi, nhưng đừng để mất đi giá trị của chính mình.
22. Hãy nhớ sự im lặng thỉnh thoảng là câu trả lời tốt nhất.
23. Đọc nhiều sách. Tivi không thay thế được điều này.
24. Sống 1 cuộc sống tốt và đức hạnh, để sau này về già nghĩ lại, bạn sẽ muốn sống 1 cuộc đời như thế lần thứ hai.
25. Mức độ tình yêu trong gia đình bạn luôn là nền tảng cuộc sống của bạn. Tất cả những gì bạn làm là tạo một mái nhà thanh bình và hòa thuận.
26. Khi bạn bất đồng với người yêu, hãy chỉ đề cập đến vấn đề hiện tại, đừng đụng chạm đến quá khứ.
27. Đừng chỉ nghe những gì người ta nói, hãy nghe tại sao họ nói như vậy.
28. Chia sẻ kiến thức của bạn. Đó là cách để khám phá ra sự bất tử.
29. Hãy đối xử tử tế với thiên nhiên.
30. Đừng bao giờ làm gián đoạn khi bạn đang được khen ngợi.
31. Ý thức được công việc của mình.
32. Đừng tin ai đó khi người ấy không nhắm mắt trong lúc bạn hôn người ấy!
33. Mỗi năm 1 lần, hãy đi đến nơi nào mà bạn chưa từng đến.
34. Nếu bạn làm ra nhiều tiền, hãy giúp đỡ mọi người. Đó là tài sản giá trị nhất.
35. Hãy nhớ, 1 mối quan hệ tốt nhất là khi tình cảm của bạn dành cho người đó vượt lên trên những gì bạn cần ở họ.
36. Hãy chiêm nghiệm thành công của bạn dựa trên những gì bạn phải từ bỏ để có được nó.
37. Sống với sự hiểu biết và kiến thức.
38. Đôi lúc cũng phải yêu và… nấu ăn một cách liều lĩnh

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

BÀI HỌC VỀ SỰ DỐI TRÁ


BÀI HỌC VỀ SỰ DỐI TRÁ

Một cô gái sau khi tốt nghiệp liền sang Pháp, bắt đầu một cuộc sống vừa đi học vừa đi làm. Dần dần, cô phát hiện hệ thống thu vé các phương tiện công cộng ở đây hoàn toàn theo tính tự giác.

Có nghĩa là bạn muốn đi đến nơi nào, có thể mua vé theo lịch trình đã định, các bến xe theo phương thức mở cửa, không có cửa soát vé, cũng không có nhân viên soát vé, đến khả năng kiểm tra vé đột xuất cũng rất thấp.

Cô đã phát hiện được lỗ hổng quản lí này, hoặc giả chính suy nghĩ của cô có lỗ hổng. Dựa vào trí thông minh của mình, cô ước tính tỉ lệ để bị bắt trốn vé chỉ khoảng ba phần trăm.

Cô vô cùng tự mãn với phát hiện này của bản thân, từ đó cô thường xuyên trốn vé. Cô còn tự tìm một lí do để bản thân thấy nhẹ nhõm: mình là sinh viên nghèo mà, giảm được chút nào hay chút nấy.

Sau bốn năm, cô đạt được tấm bằng tốt nghiệp loại giỏi của một trường danh giá, cô tràn đầy tự tin đến những công ty lớn xin việc.

Nhưng những công ty này không hiểu vì lí do gì, lúc đầu còn rất nhiệt tình nhưng về sau đều từ chối cô. Thất bại liên tiếp khiến cô tức tối. Cô nghĩ nhất định những công ti này phân biệt chủng tộc, không nhận người nước ngoài.

Cuối cùng có một lần, cô trực tiếp đến bộ phận nhân lực của một công ty, yêu cầu giám đốc đưa ra một lý do vì sao từ chối cô. Kết cục họ đưa ra một lí do khiến cô không ngờ.

"Thưa cô, chúng tôi không hề phân biệt chủng tộc, ngược lại chúng tôi rất coi trọng cô. Lúc cô đến phỏng vấn, chúng tôi đều rất hài lòng với môi trường giáo dục và trình độ học vấn của cô, thực ra nếu xét trên phương diện năng lực, cô chính là người mà chúng tôi tìm kiếm."

"Vậy tại sao công ty ngài lại không tuyển dụng tôi?"

"Bởi chúng tôi kiểm tra lịch sử tín dụng của cô và phát hiện ra cô đã từng ba lần bị phạt tiền vì tội trốn vé"

"Tôi không phủ nhận điều này, nhưng chỉ vì chuyện nhỏ này, mà các anh sẵn sàng bỏ qua một nhân tài đã nhiều lần được đăng luận văn trên báo như tôi sao?"

"Chuyện nhỏ? Chúng tôi lại không cho rằng đây là chuyện nhỏ. Chúng tôi phát hiện, lần đầu tiên cô trốn vé là khi mới đến đất nước chúng tôi được một tuần.

Nhân viên kiểm tra đã tin rằng do cô mới đến và vẫn chưa hiểu rõ việc thu vé tự giác, cho phép cô được mua lại vé. Nhưng sau đó cô vẫn trốn vé thêm 2 lần nữa."

"Khi đó trong túi tôi không có tiền lẻ."

"Không, không thưa cô. Tôi không thể chấp nhận lí do này của cô, cô đang đánh giá thấp IQ của tôi ư. Tôi tin chắc trước khi bị bắt trốn vé, cô đã trốn được cả trăm lần rồi."

"Đó cũng chẳng phải tội chết, anh sao phải cứng nhắc như vậy? Tôi sửa là được mà."

"Không không, thưa cô. Chuyện này chứng tỏ hai điều: Một là cô không coi trọng quy tắc. Cô lợi dụng những lỗ hổng trong quy tắc và sử dụng nó. Hai, cô không xứng đáng được tin tưởng.

Mà rất nhiều công việc trong công ty chúng tôi cần phải dựa vào sự tin tưởng để vận hành, nếu cô phụ trách mở một khu chợ ở một nơi nào đó, công ty sẽ cho cô toàn quyền lực phụ trách.

Để tiết kiệm chi phí, chúng tôi sẽ không lắp đặt các thuyết bị giám sát, cũng như các hệ thống xe công cộng mà cô đã thấy đó.

Vì vậy chúng tôi không thể tuyển dụng cô, tôi có thể chắc chắn rằng, tại đất nước chúng tôi, thậm chí cả châu Âu này cô sẽ không thể xin vào được nổi một công ty nào đâu."

Đến lúc này cô mới tỉnh ngộ và cảm thấy hối hận vô cùng. Sau đó, điều khiến cô ghi nhớ nhất là câu nói cuối cùng của vị giám đốc này: Đạo đức có thể bù đắp cho sự thiếu hụt về trí tuệ, nhưng trí tuệ mãi mãi không thể bù đắp cho sự thiếu hụt về đạo đức.

Đạo đức là phẩm chất cơ bản nhất của con người, cũng là nhân cách của một người. Một người dù ưu tú đến đâu nhưng nhân cách có vấn đề, cũng sẽ mất đi niềm tin và sự ủng hộ của người khác.

Trên phương diện việc làm, những hành vi mất nhân cách thế này càng đáng sợ hơn, vì cái lợi nhỏ trước mắt mà phá bỏ nguyên tắc, điều này chắc chắn sẽ hủy hoại tiền đồ của bạn.

Tôi cho các bạn lời khuyên chân thành, trong sự nghiệp cần phải dựa vào năng lực và chân thành của bản thân, mất thứ gì cũng không bằng mất nhân phẩm.

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2016

DUYÊN NGHIỆP


Duyên Nghiệp
***
Trong suốt đời ta, sẽ gặp hàng nghìn hàng vạn loại người. Để yêu một người thì không cần cố gắng, chỉ cần có “duyên” là đủ. Nhưng để tiếp tục yêu một người thì phải cố gắng.
Trước miếu Quan Âm mỗi ngày có vô số người tới thắp hương lễ Phật, khói hương nghi ngút. Trên cây xà ngang trước miếu có con nhện chăng tơ, mỗi ngày đều ngập trong khói hương và những lời cầu đảo, nhện dần có Phật tính. Trải nghìn năm tu luyện, nhện đã linh. 

Một ngày, bỗng Phật dạo đến ngôi miếu nọ, thấy khói hương rất vượng, hài lòng lắm. Lúc rời miếu, ngài vô tình ngẩng đầu lên, nhìn thấy nhện trên xà. 

Phật dừng lại, hỏi nhện: “Ta gặp ngươi hẳn là có duyên, ta hỏi ngươi một câu, xem ngươi tu luyện một nghìn năm nay có thật thông tuệ chăng. Được không?” 

Nhện gặp được Phật rất mừng rỡ, vội vàng đồng ý. Phật hỏi: “Thế gian cái gì quý giá nhất?” 

Nhện suy ngẫm, rồi đáp: “Thế gian quý nhất là những gì không có được và những gì đã mất đi!”. Phật gật đầu, đi khỏi. 

Lại một nghìn năm nữa trôi qua, nhện vẫn tu luyện trên thanh xà trước miếu Quan Âm, Phật tính của nhện đã mạnh hơn. 
18908_con-nhen15_564
Một ngày, Phật đến trước miếu, hỏi nhện: “Ngươi có nhớ câu hỏi một nghìn năm trước của ta không, giờ ngươi đã hiểu nó sâu sắc hơn chăng?” 

Nhện nói: “Con cảm thấy trong nhân gian quý nhất vẫn là “không có được” và “đã mất đi” ạ!” 

Phật bảo: “Ngươi cứ nghĩ nữa đi, ta sẽ lại tìm ngươi.” 

Một nghìn năm nữa lại qua, có một hôm, nổi gió lớn, gió cuốn một hạt sương đọng lên lưới nhện. Nhện nhìn giọt sương, thấy nó long lanh trong suốt sáng lấp lánh, đẹp đẽ quá, nhện có ý yêu thích. Ngày này nhìn thấy giọt sương nhện cũng vui, nó thấy là ngày vui sướng nhất trong suốt ba nghìn năm qua. Bỗng dưng, gió lớn lại nổi, cuốn giọt sương đi. Nhện giây khắc thấy mất mát, thấy cô đơn, thấy đớn đau. 

Lúc đó Phật tới, ngài hỏi: “Nhện, một nghìn năm qua, ngươi đã suy nghĩ thêm chưa: Thế gian này cái gì quý giá nhất?” 

Nhện nghĩ tới giọt sương, đáp với Phật: “Thế gian này cái quý giá nhất chính là cái không có được và cái đã mất đi.” 

Phật nói: “Tốt, nếu ngươi đã nhận thức như thế, ta cho ngươi một lần vào sống cõi người nhé!” 

Và thế, nhện đầu thai vào một nhà quan lại, thành tiểu thư đài các, bố mẹ đặt tên cho nàng là Châu Nhi. Thoáng chốc Châu Nhi đã mười sáu, thành thiếu nữ xinh đẹp yểu điệu, duyên dáng. Hôm đó, tân Trạng Nguyên Cam Lộc đỗ đầu khoa, nhà vua quyết định mở tiệc mừng sau vườn ngự uyển. 

Rất nhiều người đẹp tới yến tiệc, trong đó có Châu Nhi và Trường Phong công chúa. Trạng Nguyên trổ tài thi ca trên tiệc, nhiều tài nghệ khiến mọi thiếu nữ trong bữa tiệc đều phải lòng. Nhưng Châu Nhi không hề lo âu cũng không ghen, bởi nàng biết, chàng là mối nhân duyên mà Phật đã đưa tới dành cho nàng. 

Qua vài ngày, tình cờ Châu Nhi theo mẹ lên miếu lễ Phật, cũng lúc Cam Lộc đưa mẹ tới miếu. Sau khi lễ Phật, hai vị mẫu thân ngồi nói chuyện. Châu Nhi và Cam Lộc thì tới hành lang tâm sự, Châu Nhi vui lắm, cuối cùng nàng đã có thể ở bên người nàng yêu, nhưng Cam Lộc dường như quá khách sáo. 

Châu Nhi nói với Cam Lộc: “Chàng còn nhớ việc mười sáu năm trước, của con nhện trên xà miếu Quan Âm chăng?” 

Cam Lộc kinh ngạc, hỏi: “Châu Nhi cô nương, cô thật xinh đẹp, ai cũng hâm mộ, nên trí tưởng tượng của cô cũng hơi quá nhiều chăng?”. Nói đoạn, chàng cùng mẹ chàng đi khỏi đó. 

Châu Nhi về nhà, nghĩ, Phật đã an bài mối nhân duyên này, vì sao không để cho chàng nhớ ra chuyện cũ, Cam Lộc vì sao lại không hề có cảm tình với ta? Vài ngày sau, vua có chiếu ban cho Trạng Nguyên Cam Lộc sánh duyên cùng công chúa Trường Phong, Châu Nhi được sánh duyên với thái tử Chi Thụ. Tin như sấm động giữa trời quang, nàng không hiểu vì sao Phật tàn nhẫn với nàng thế. 

Châu Nhi bỏ ăn uống, nằm khô nhắm mắt nghĩ ngợi đau đớn, vài ngày sau linh hồn nàng sắp thoát khỏi thân xác, sinh mệnh thoi thóp. 

Thái tử Chi Thụ biết tin, vội vàng tới, phục xuống bên giường nói với nàng: “Hôm đó, trong những cô gái giữa bữa tiệc sau vườn thượng uyển, ta vừa gặp nàng đã thấy yêu thương, ta đã khốn khổ cầu xin phụ vương để cha ta cho phép cưới nàng. Nếu như nàng chết, thì ta còn sống làm chi.” Nói đoạn rút gươm tự sát. 

Và giây khắc ấy Phật xuất hiện, Phật nói với linh hồn sắp lìa thể xác Châu Nhi: “Nhện, ngươi đã từng nghĩ ra, giọt sương (Cam Lộc) là do ai mang đến bên ngươi chăng? Là gió (Trường Phong) mang tới đấy, rồi gió lại mang nó đi. Cam Lộc thuộc về công chúa Trường Phong, anh ta chỉ là một khúc nhạc thêm ngắn ngủi vào sinh mệnh ngươi mà thôi. 

Còn thái tử Chi Thụ chính là cái cây nhỏ trước cửa miếu Quan Âm đó, anh ta đã ngắm ngươi ba nghìn năm, yêu ngươi ba nghìn năm, nhưng ngươi chưa hề cúi xuống nhìn anh ta. Nhện, ta lại đến hỏi ngươi, thế gian này cái gì là quý giá nhất?” 

Nhện nghe ra sự thật, chợt tỉnh ngộ, nàng nói với Phật: “Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ!” 

Vừa nói xong, Phật đã đi mất, linh hồn Châu Nhi quay lại thân xác, mở mắt ra, thấy thái tử Chi Thụ định tự sát, nàng vội đỡ lấy thanh kiếm… 

“Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ!” 
Trong suốt đời ta, sẽ gặp hàng nghìn hàng vạn loại người.
Để yêu một người thì không cần cố gắng, chỉ cần có “duyên” là đủ.
Nhưng để tiếp tục yêu một người thì phải cố gắng.
Mất một người không biết trân quý bạn, có gì phải buồn rầu?
Bởi bạn còn cơ hội, một lần nữa, gặp người biết rằng bạn quý giá.
  
*****